Cầu xin Allah che chở khỏi điều ác
بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَٰنِ الرَّحِيمِ
قُلْ أَعُوذُ بِرَبِّ الْفَلَقِ مِنْ شَرِّ مَا خَلَقَ، وَمِنْ شَرِّ غَاسِقٍ إِذَا وَقَبَ، وَمِنْ شَرِّ النَّفَّاثَاتِ فِي الْعُقَدِ، وَمِنْ شَرِّ حَاسِدٍ إِذَا حَسَدَ.
قُلْ أَعُوذُ بِرَبِّ الْفَلَقِ مِنْ شَرِّ مَا خَلَقَ وَمِنْ شَرِّ غَاسِقٍ إِذَا وَقَبَ وَمِنْ شَرِّ النَّفَّاثَاتِ فِي الْعُقَدِ وَمِنْ شَرِّ حَاسِدٍ إِذَا حَسَدَ
بِسْمِ اللَّهِ الرَّحْمَٰنِ الرَّحِيمِ
قُلْ أَعُوذُ بِرَبِّ النَّاسِ، مَلِكِ النَّاسِ، إِلَٰهِ النَّاسِ، مِنْ شَرِّ الْوَسْوَاسِ الْخَنَّاسِ، الَّذِي يُوَسْوِسُ فِي صُدُورِ النَّاسِ، مِنَ الْجِنَّةِ، وَالنَّاسِ.
قُلْ أَعُوذُ بِرَبِّ النَّاسِ مَلِكِ النَّاسِ إِلَٰهِ النَّاسِ مِنْ شَرِّ الْوَسْوَاسِ الْخَنَّاسِ الَّذِي يُوَسْوِسُ فِي صُدُورِ النَّاسِ مِنَ الْجِنَّةِ وَالنَّاسِ
Không thể tải âm thanh. Vui lòng thử lại sau.
Không thể tải âm thanh. Vui lòng thử lại sau.
Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói: “Bề tôi cầu xin Thượng Đế của bình minh che chở. “Tránh khỏi những điều xấu mà Ngài đã tạo.” “Tránh khỏi những điều xấu của bóng đêm khi nó bao phủ.” “Tránh khỏi những điều xấu từ những kẻ phù phép vào những chiếc gút thắt.” “Và tránh khỏi sự hãm hại của những kẻ ganh ghét và đố kỵ.” Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói: “Bề tôi cầu xin Thượng Đế của nhân loại che chở.” “Vị Vua của nhân loại.” “Thượng Đế của nhân loại.” “Tránh khỏi những điều xấu của kẻ thì thào quấy nhiễu.” “Kẻ thường thì thào vào lòng của nhân loại.” “Từ loài Jinn và loài người.”
Hình thức: Hai surah cuối cùng trong Mushaf (Mu‘awwidhatayn — Hai surah cầu xin sự che chở). Đây là lá chắn chủ yếu của người Muslim, giúp họ cầu xin Allah che chở khỏi mắt độc, ma thuật, lòng đố kỵ và những lời xúi giục của các shaytan thuộc loài jinn và loài người.
Tafsir của Sheikh Abdurrahman as-Sa'di
(Và khỏi điều ác của kẻ ganh ghét khi hắn ganh ghét.) Kẻ ganh ghét là người mong muốn ân phúc nơi người bị ganh ghét mất đi, rồi tìm cách làm cho ân phúc ấy mất đi bằng mọi phương tiện mà hắn có thể. Vì vậy, cần cầu xin Allah che chở khỏi điều ác của hắn và làm tiêu tan mưu kế của hắn. Kẻ có ánh mắt gây hại cũng thuộc hàng những kẻ ganh ghét, bởi ánh mắt ấy chỉ xuất phát từ kẻ ganh ghét có bản tính xấu xa, tâm hồn độc ác.
Chương này bao hàm lời cầu xin Allah che chở khỏi mọi loại điều ác, cả nói chung lẫn nói riêng. Chương cũng chỉ rõ rằng ma thuật là có thật, và người ta lo ngại tác hại của nó, nên cần cầu xin Allah che chở khỏi nó và khỏi những kẻ thực hành nó.
Nghĩa là: (Hãy nói), trong khi cầu xin sự che chở: (Tôi cầu xin sự che chở), tức là tôi nương náu, tìm nơi trú ẩn và bám víu (nơi Rabb của bình minh), nghĩa là Đấng làm hạt và nhân nứt ra, cũng như Đấng làm ánh bình minh ló rạng.
Sau khi nêu khái quát, Allah tiếp tục nêu riêng: (Và khỏi điều ác của đêm tối khi nó bao phủ.) Tức là khỏi điều ác xảy ra trong đêm, khi bóng tối trùm xuống con người, và nhiều linh hồn tà ác cùng loài vật gây hại lan tràn trong đó.
(Khỏi điều ác của những gì Ngài đã tạo.) Điều này bao hàm tất cả những gì Allah đã tạo ra: loài người, jinn và muôn loài vật. Vì thế, người ta cầu xin Đấng Tạo Hóa của chúng che chở khỏi điều ác nơi chúng.
(Và khỏi điều ác của những kẻ thổi vào các nút thắt.) Nghĩa là khỏi điều ác của những nữ pháp sư, những kẻ dùng cách thổi vào các nút thắt mà họ buộc để làm phép thuật.
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người).
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Họ… cầu viện…
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Họ… cầu viện…
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Họ… cầu viện…
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Họ… cầu viện…
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Họ… cầu viện…
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Họ… cầu viện…
Chương này bao hàm lời cầu xin Rabb, Đấng Chủ Tể và Thần Linh của nhân loại che chở khỏi Shayṭān, kẻ là cội nguồn và căn nguyên của mọi điều ác. Trong những cám dỗ và điều ác của hắn có việc hắn thì thầm vào lòng người, khiến điều xấu hiện ra tốt đẹp, trình bày nó với họ dưới hình thức đẹp đẽ và khơi dậy ý muốn thực hiện điều ấy trong họ; còn điều tốt thì hắn làm cho xấu xí, khiến họ chán nản, không muốn làm, và trình bày nó với họ dưới hình thức khác hẳn bản chất của nó. Hắn luôn ở trong tình trạng ấy: thì thầm rồi lẩn đi, nghĩa là lui xa khi người bề tôi nhớ đến Rabb của mình và cầu xin Ngài giúp đẩy lui hắn.
Vì vậy, người bề tôi nên cầu xin Allah che chở và nương tựa vào quyền Chủ Tể của Allah đối với toàn thể nhân loại. Toàn thể tạo vật đều nằm dưới quyền Chủ Tể và quyền thống trị của Ngài; mọi sinh vật đều nằm trong tay Ngài, Ngài nắm lấy chỏm đầu của nó. Đồng thời, người bề tôi cần nương tựa vào tính Thần Linh của Ngài, Đấng đã tạo ra họ vì mục đích ấy. Họ chỉ có thể hoàn thành mục đích đó khi đẩy lùi điều ác của kẻ thù muốn tách họ khỏi mục đích ấy, ngăn cách họ với nó, và muốn khiến họ trở thành phe đảng của hắn để họ thành những cư dân của Lửa hừng.
Kẻ thì thầm có thể là jinn, cũng có thể là loài người. Vì vậy, Allah phán: (trong hàng jinn và loài người). Và mọi lời ca ngợi đều thuộc về Allah, Rabb của toàn thể vũ trụ, từ đầu đến cuối, bên ngoài lẫn bên trong. Chúng con cầu xin Ngài, Đấng Tối Cao, hoàn tất ân huệ của Ngài và tha thứ những tội lỗi của chúng con, những điều đã ngăn chúng con nhận được nhiều ân phúc của Ngài, cũng như những lỗi lầm và dục vọng đã khiến lòng chúng con rời xa việc suy ngẫm các lời mặc khải của Ngài.
Chúng con hy vọng và mong cầu nơi Ngài rằng Ngài sẽ không tước đoạt điều tốt đẹp nơi Ngài khỏi chúng con vì điều xấu nơi chúng con. Quả thật, không ai tuyệt vọng trước lòng khoan dung của Allah ngoại trừ những người vô đức tin, và không ai tuyệt vọng trước lòng thương xót của Ngài ngoại trừ những người lầm lạc. Cầu xin Allah ban phúc lành và bình an cho Sứ giả của Ngài, Muhammad, cùng toàn thể gia quyến và bạn hữu của Người, lời chúc phúc và bình an liên tục, bền lâu mọi thời khắc. Mọi lời ca ngợi đều thuộc về Allah, Đấng mà nhờ ân huệ của Ngài, các việc thiện được hoàn tất.
Việc giải thích Kinh Sách của Allah đã hoàn tất nhờ sự trợ giúp và thành công tốt đẹp của Ngài, do người sưu tập và chấp bút là ‘Abd al-Raḥmān ibn Nāṣir ibn ‘Abd Allāh, được biết đến với tên Ibn Sa‘dī. Cầu xin Allah tha thứ cho ông, cha mẹ ông và toàn thể người Muslim. Việc này được hoàn thành vào ngày đầu tháng Rabī‘ al-Awwal năm 1344 theo lịch Hijrah của Muhammad ﷺ.
Đã hoàn tất, xin tạ ơn Allah. Xin đừng quên cầu nguyện cho chúng tôi khi chúng tôi vắng mặt. Họ… cầu viện…
Tafsir của Imam Ibn Kathir
Tafsir hai chương Al-Mu‘awwidhatayn [hai chương cầu Allah che chở], và cả hai đều được mặc khải tại Madinah.
Imam Ahmad nói: ‘Affān thuật lại với chúng tôi, Hammād ibn Salamah thuật lại với chúng tôi, ‘Āṣim ibn Bahdalah cho chúng tôi biết, thuật lại từ Zirr ibn Ḥubaysh, ông nói: Tôi hỏi Ubayy ibn Ka‘b: “Ibn Mas‘ūd không ghi hai chương Al-Mu‘awwidhatayn trong bản Mushaf của ông ấy phải không?” Ubayy đáp: “Tôi xin chứng thực rằng Sứ giả của Allah ﷺ đã cho tôi biết, rằng Jibrīl عليه السلام nói với Người: ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông.’ Tôi bèn đọc theo. Ngài nói: ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.’
Tôi bèn đọc theo. Vì vậy, chúng tôi nói đúng như điều Nabi ﷺ đã nói.”
Abū Bakr al-Ḥumaydī cũng thuật lại chuyện này trong Musnad của ông, từ Sufyān ibn ‘Uyaynah: ‘Abdah ibn Abī Lubābah và ‘Āṣim ibn Bahdalah thuật lại với chúng tôi rằng cả hai đã nghe Zirr ibn Ḥubaysh nói: Tôi hỏi Ubayy ibn Ka‘b về hai chương Al-Mu‘awwidhatayn, rồi nói: “Abū al-Mundhir, người anh em của ông là Ibn Mas‘ūd xóa hai chương ấy khỏi Mushaf.” Ông đáp: “Tôi đã hỏi Sứ giả của Allah ﷺ, Người nói: ‘Ta được bảo: Hãy nói; và ta đã nói.’ Vì vậy, chúng tôi nói như Sứ giả của Allah ﷺ đã nói.”
Aḥmad nói: Wakī‘ thuật lại với chúng tôi, Sufyān thuật lại với chúng tôi, từ ‘Āṣim, từ Zirr, ông nói: Tôi hỏi Ibn Mas‘ūd về hai chương Al-Mu‘awwidhatayn. Ông đáp: “Tôi đã hỏi Nabi ﷺ về hai chương ấy. Người nói: ‘Ta được bảo nói với các ngươi, vậy các ngươi hãy nói.’” Ubayy nói: “Nabi ﷺ đã nói với chúng tôi như vậy, nên chúng tôi nói theo.”
Al-Bukhārī nói: ‘Alī ibn ‘Abd Allāh thuật lại với chúng tôi, Sufyān thuật lại với chúng tôi, ‘Abdah ibn Abī Lubābah thuật lại từ Zirr ibn Ḥubaysh — và ‘Āṣim cũng thuật lại với chúng tôi, từ Zirr — ông nói: Tôi hỏi Ubayy ibn Ka‘b: “Abū al-Mundhir, người anh em của ông là Ibn Mas‘ūd nói thế này thế nọ.” Ubayy đáp: “Tôi đã hỏi Nabi ﷺ, Người nói: ‘Ta được bảo nói, và ta đã nói.’ Vì vậy, chúng tôi nói như Sứ giả của Allah ﷺ đã nói.” Al-Bukhārī cũng như al-Nasā’ī thuật lại chuyện này từ Qutaybah, từ Sufyān ibn ‘Uyaynah, từ ‘Abdah và ‘Āṣim ibn Abī al-Najūd, từ Zirr ibn Ḥubaysh, từ Ubayy ibn Ka‘b.
Ḥāfiẓ Abū Ya‘lā nói: Al-Azraq ibn ‘Alī thuật lại với chúng tôi, Ḥassān ibn Ibrāhīm thuật lại với chúng tôi, al-Ṣalt ibn Bahrām thuật lại từ Ibrāhīm, từ ‘Alqamah, ông nói: ‘Abd Allāh [ibn Mas‘ūd] thường xóa hai chương Al-Mu‘awwidhatayn khỏi Mushaf và nói: “Sứ giả của Allah ﷺ chỉ được lệnh cầu Allah che chở bằng hai chương ấy, còn ‘Abd Allāh thì không đọc chúng.”’ ‘Abd Allāh ibn Aḥmad thuật lại từ al-A‘mash, từ Abū Isḥāq, từ ‘Abd al-Raḥmān ibn Yazīd, rằng ‘Abd Allāh [ibn Mas‘ūd] thường xóa hai chương Al-Mu‘awwidhatayn khỏi các bản Mushaf của mình và nói: “Hai chương ấy không thuộc Sách của Allah.”
Al-A‘mash nói: ‘Āṣim thuật lại với chúng tôi, từ Zirr ibn Ḥubaysh, từ Ubayy ibn Ka‘b: “Chúng tôi đã hỏi Sứ giả của Allah ﷺ về hai chương ấy. Người nói: ‘Ta được bảo nói, và ta đã nói.’”
Điều này được nhiều người thuộc giới đọc Qur’an và các học giả fiqh biết đến: Ibn Mas‘ūd không ghi hai chương Al-Mu‘awwidhatayn trong Mushaf của ông. Có lẽ ông chưa nghe chúng từ Nabi ﷺ và chúng chưa được truyền đến ông theo phương thức tawātur. Sau đó, có thể ông đã từ bỏ ý kiến ấy và theo ý kiến của tập thể, bởi các Ṣaḥābah رضي الله عنهم đã ghi hai chương này vào các bản Mushaf mẫu, rồi gửi chúng đi khắp các miền. Mọi lời ca ngợi và ân huệ đều thuộc về Allah.
Muslim ghi trong Ṣaḥīḥ của mình: Qutaybah thuật lại với chúng tôi, Jarīr thuật lại với chúng tôi, từ Bayān, từ Qays ibn Abī Ḥāzim, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Ngươi không thấy những câu kinh được ban xuống trong đêm nay sao? Chưa từng có câu nào tương tự như chúng: ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông’ và ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.’” Aḥmad, Muslim, al-Tirmidhī và al-Nasā’ī cũng thuật lại từ Ismā‘īl ibn Abī Khālid, từ Qays ibn Abī Ḥāzim, từ ‘Uqbah, với nội dung tương tự. Al-Tirmidhī nói: Hadith ḥasan ṣaḥīḥ.
Một đường truyền khác: Imam Aḥmad nói: Al-Walīd ibn Muslim thuật lại với chúng tôi, Ibn Jābir thuật lại với chúng tôi, từ al-Qāsim Abū ‘Abd al-Raḥmān, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, ông nói: Khi tôi đang dắt Sứ giả của Allah ﷺ qua một lối núi trong những lối núi ấy, Người nói với tôi: “Này ‘Uqbah, ngươi không cưỡi lên sao?” Tôi sợ đó là điều bất tuân, nên Sứ giả của Allah ﷺ xuống ngựa và tôi cưỡi một lúc ngắn, rồi Người cưỡi lại. Sau đó Người nói: “Này ‘Uqayb, ta có nên dạy ngươi hai chương tốt nhất trong những chương người ta đọc không?” Tôi đáp: “Có, thưa Sứ giả của Allah.”
Người dạy tôi: “Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông” và “Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.” Rồi iqāmah được xướng lên, Sứ giả của Allah ﷺ bước lên làm imam và đọc hai chương ấy. Sau đó Người đi ngang qua tôi và nói: “Này ‘Uqayb, ngươi thấy thế nào? Hãy đọc hai chương ấy mỗi khi ngươi đi ngủ và mỗi khi thức dậy.”
Al-Nasā’ī thuật lại từ al-Walīd ibn Muslim và ‘Abd Allāh ibn al-Mubārak, cả hai đều thuật lại từ Ibn Jābir, với chuỗi truyền thuật ấy. Abū Dāwūd và al-Nasā’ī cũng thuật lại từ Ibn Wahb, từ Mu‘āwiyah ibn Ṣāliḥ, từ al-‘Alā’ ibn al-Ḥārith, từ al-Qāsim ibn ‘Abd al-Raḥmān, từ ‘Uqbah, với nội dung tương tự.
Một đường truyền khác: Aḥmad nói: Abū ‘Abd al-Raḥmān thuật lại với chúng tôi, Sa‘īd ibn Abī Ayyūb thuật lại với chúng tôi, Yazīd ibn ‘Abd al-‘Azīz al-Ru‘aynī và Abū Marḥūm kể lại với tôi, từ Yazīd ibn Muḥammad al-Qurashī, từ ‘Alī ibn Rabāḥ, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ ra lệnh cho tôi đọc các chương cầu Allah che chở sau mỗi lễ nguyện Salah. Abū Dāwūd, al-Tirmidhī và al-Nasā’ī thuật lại từ nhiều đường truyền, từ ‘Alī ibn Abī Rabāḥ. Al-Tirmidhī nói: Hadith gharīb.
Một đường truyền khác: Aḥmad nói: Yaḥyā ibn Isḥāq thuật lại với chúng tôi, Ibn Lahī‘ah thuật lại với chúng tôi, từ Mishraḥ ibn Hā‘ān, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói với tôi: “Hãy đọc hai chương Al-Mu‘awwidhatayn, bởi ngươi sẽ không đọc được hai chương nào tương tự chúng.” Chỉ riêng Aḥmad thuật lại đường truyền này.
Một đường truyền khác: Aḥmad nói: Ḥaywah ibn Shurayḥ thuật lại với chúng tôi, Baqiyyah thuật lại với chúng tôi, Buḥayr ibn Sa‘d thuật lại với chúng tôi, từ Khālid ibn Ma‘dān, từ Jubayr ibn Nufayr, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, rằng ông nói: Một con la màu xám trắng được dâng tặng Sứ giả của Allah ﷺ. Người cưỡi lên, còn ‘Uqbah nắm dây dắt. Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Hãy đọc: ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông.’” Người cứ lặp lại lời ấy với tôi cho đến khi tôi đọc xong.
Người nhận thấy tôi không mấy vui vẻ, bèn nói: “Có lẽ ngươi xem nhẹ chương này chăng? Ngươi chưa từng đứng cầu nguyện với thứ gì tốt đẹp như nó.” Al-Nasā’ī thuật lại từ ‘Amr ibn ‘Uthmān, từ Baqiyyah, với chuỗi truyền thuật ấy. Al-Nasā’ī cũng thuật lại từ al-Thawrī, từ Mu‘āwiyah ibn Ṣāliḥ, từ ‘Abd al-Raḥmān ibn Jubayr ibn Nufayr, từ cha ông, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir: ông hỏi Sứ giả của Allah ﷺ về hai chương Al-Mu‘awwidhatayn, rồi kể lại nội dung tương tự.
Một đường truyền khác: Al-Nasā’ī nói: Muḥammad ibn ‘Abd al-A‘lā cho chúng tôi biết, al-Mu‘tamir thuật lại với chúng tôi, ông nói: Tôi nghe al-Nu‘mān thuật lại, từ Ziyād Abū al-Asad, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, rằng Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Người ta chưa từng cầu Allah che chở bằng điều gì tương tự như hai chương này: ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông’ và ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.’”
Một đường truyền khác: Al-Nasā’ī nói: Qutaybah cho chúng tôi biết, al-Layth thuật lại với chúng tôi, từ Ibn ‘Ajlān, từ Sa‘īd al-Maqburī, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, ông nói: Tôi đi bộ cùng Sứ giả của Allah ﷺ thì Người nói: “Này ‘Uqbah, hãy nói.” Tôi hỏi: “Con nên nói gì?” Người im lặng, rồi lại nói: “Hãy nói.” Tôi hỏi: “Con nên nói gì, thưa Sứ giả của Allah?”
Người im lặng. Tôi bèn thưa: “Lạy Allah, xin Người nhắc lại điều đó cho con.” Người nói: “Này ‘Uqbah, hãy nói.” Tôi hỏi: “Con nên nói gì, thưa Sứ giả của Allah?” Người đáp: “‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông’”, rồi Người đọc đến cuối chương.
Sau đó Người nói: “Hãy nói.” Tôi hỏi: “Con nên nói gì, thưa Sứ giả của Allah?” Người đáp: “‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại’”, rồi Người đọc đến cuối chương. Khi ấy, Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Người cầu xin chưa từng cầu xin điều gì tương tự hai chương này, và người cầu Allah che chở chưa từng cầu che chở bằng điều gì tương tự chúng.”
Một đường truyền khác: Al-Nasā’ī nói: Muḥammad ibn Yasār cho chúng tôi biết, ‘Abd al-Raḥmān thuật lại với chúng tôi, Mu‘āwiyah thuật lại với chúng tôi, từ al-‘Alā’ ibn al-Ḥārith, từ Makhūl, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, rằng Sứ giả của Allah ﷺ đã đọc hai chương này trong lễ nguyện Salah Fajr.
Một đường truyền khác: Al-Nasā’ī nói: Qutaybah cho chúng tôi biết, al-Layth thuật lại với chúng tôi, từ Yazīd ibn Abī Ḥabīb, từ Abū ‘Imrān Aslam, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, ông nói: Tôi theo sau Sứ giả của Allah ﷺ khi Người đang cưỡi ngựa. Tôi đặt tay lên bàn chân Người và thưa: “Xin Người dạy con chương Hūd hoặc chương Yūsuf.” Người đáp: “Ngươi sẽ không đọc được điều gì có ích hơn đối với Allah so với ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông.’”
Một hadith khác: Al-Nasā’ī nói: Maḥmūd ibn Khālid cho chúng tôi biết, al-Walīd thuật lại với chúng tôi, Abū ‘Amr al-Awzā‘ī thuật lại với chúng tôi, từ Yaḥyā ibn Abī Kathīr, từ Muḥammad ibn Ibrāhīm ibn al-Ḥārith, từ Abū ‘Abd Allāh, từ Ibn ‘Ā’ish al-Juhanī, rằng Nabi ﷺ nói với ông: “Này Ibn ‘Ā’ish, ta có nên chỉ cho ngươi — hay báo cho ngươi — điều tốt nhất để những người cầu Allah che chở dùng làm phương tiện cầu che chở không?” Ông đáp: “Vâng, thưa Sứ giả của Allah.” Người nói: “‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông’ và ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại’ — đó là hai chương này.”
Những đường truyền từ ‘Uqbah nhiều đến mức gần như mutawātir; theo nhiều nhà nghiên cứu chuyên sâu về hadith, chúng mang lại sự xác tín tuyệt đối. Trước đó đã dẫn lời thuật của Ṣudayy ibn ‘Ajlān và Farwah ibn Mujāhid, từ ông, rằng Nabi ﷺ nói: “Ta có nên dạy các ngươi ba chương chưa từng được ban xuống trong Tawrah, Injīl, Zabūr hay Furqān chương nào tương tự chúng không? ‘Hãy nói: Ngài là Allah, Đấng Duy Nhất’, ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông’ và ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.’”
Một hadith khác: Imam Aḥmad nói: Ismā‘īl thuật lại với chúng tôi, al-Jurayrī thuật lại với chúng tôi, từ Abū al-‘Alā’, ông nói: Một người kể: Chúng tôi cùng Sứ giả của Allah ﷺ trong một chuyến đi, mọi người thay phiên nhau cưỡi, còn ngựa cưỡi thì ít. Đến lượt Sứ giả của Allah ﷺ xuống đi bộ rồi đến lượt tôi, Người đi đến bên tôi và vỗ vào vai tôi, rồi nói: “‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông.’” Sứ giả của Allah ﷺ đọc chương ấy, tôi cũng đọc theo. Sau đó Người nói: “‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.’”
Sứ giả của Allah ﷺ đọc chương ấy, tôi cũng đọc theo. Người nói: “Khi ngươi cầu nguyện, hãy đọc hai chương ấy.” Có vẻ như người này chính là ‘Uqbah ibn ‘Āmir, Allah biết rõ hơn. Al-Nasā’ī thuật lại từ Ya‘qūb ibn Ibrāhīm, từ Ibn ‘Ulayyah, với chuỗi truyền thuật ấy.
Một hadith khác: Al-Nasā’ī nói: Muḥammad ibn al-Muthannā cho chúng tôi biết, Muḥammad ibn Ja‘far thuật lại với chúng tôi, từ ‘Abd Allāh ibn Sa‘īd, Yazīd ibn Rūmān kể lại với tôi, từ ‘Uqbah ibn ‘Āmir, từ ‘Abd Allāh al-Aslamī — chính là Ibn Anīs — rằng Sứ giả của Allah ﷺ đặt tay lên ngực ông rồi nói: “Hãy nói.” Tôi không biết phải nói gì, Người lại bảo tôi: “Hãy nói.” Tôi đáp: “‘Hãy nói: Ngài là Allah, Đấng Duy Nhất.’” Rồi Người bảo tôi: “Hãy nói.”
Tôi đáp: “‘Tôi cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông, tránh khỏi điều xấu của những gì Ngài đã tạo ra’”, cho đến khi đọc xong chương. Rồi Người bảo tôi: “Hãy nói.” Tôi đáp: “‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại’”, cho đến khi đọc xong chương. Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Hãy cầu Allah che chở như vậy; người cầu Allah che chở chưa từng cầu che chở bằng điều gì tương tự chúng.”
Một hadith khác: Al-Nasā’ī nói: ‘Amr ibn ‘Alī Abū Ḥafṣ cho chúng tôi biết, Badal thuật lại với chúng tôi, Shaddād ibn Sa‘īd Abū Ṭalḥah thuật lại với chúng tôi, Sa‘īd al-Jurayrī thuật lại với chúng tôi, từ Abū Naḍrah, từ Jābir ibn ‘Abd Allāh, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói với tôi: “Hãy đọc đi, Jābir.” Tôi thưa: “Con đọc gì đây, xin cha mẹ con được hy sinh vì Người?” Người đáp: “Hãy đọc: ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của rạng đông’ và ‘Hãy nói: Ta cầu nương náu nơi Rabb của nhân loại.’” Tôi đọc hai chương ấy, Người nói: “Hãy đọc chúng; ngươi sẽ không đọc được hai chương nào tương tự chúng.”
Trước đó đã dẫn hadith của ‘Ā’ishah rằng Sứ giả của Allah ﷺ thường đọc các chương ấy, thổi nhẹ vào hai lòng bàn tay, rồi xoa lên đầu, mặt và những phần cơ thể ở phía trước. Imam Mālik nói: Ibn Shihāb thuật lại từ ‘Urwah, từ ‘Ā’ishah: Khi Sứ giả của Allah ﷺ đau bệnh, Người đọc hai chương Al-Mu‘awwidhatayn lên mình và thổi nhẹ. Khi cơn đau trở nặng, tôi đọc lên Người và dùng tay Người xoa lên thân thể Người, mong nhận được phúc lành từ tay Người.
Al-Bukhārī thuật lại từ ‘Abd Allāh ibn Yūsuf; Muslim từ Yaḥyā ibn Yaḥyā; Abū Dāwūd từ al-Qa‘nabī; al-Nasā’ī từ Qutaybah — và từ Ibn al-Qāsim và ‘Īsā ibn Yūnus — còn Ibn Mājah từ Ma‘n và Bishr ibn ‘Umar. Tất cả tám người đều thuật lại từ Mālik với chuỗi truyền thuật ấy.
Ở phần cuối chương Nūn, đã dẫn hadith của Abū Naḍrah từ Abū Sa‘īd: Sứ giả của Allah ﷺ từng cầu Allah che chở khỏi ánh mắt của jinn và mắt người. Khi hai chương Al-Mu‘awwidhatayn được ban xuống, Người dùng hai chương ấy và bỏ những lời cầu che chở khác. Al-Tirmidhī, al-Nasā’ī và Ibn Mājah thuật lại hadith này. Al-Tirmidhī nói: Hadith ḥasan.
Ibn Abī Ḥātim nói: Aḥmad ibn ‘Iṣām thuật lại với chúng tôi, Abū Aḥmad al-Zubayrī thuật lại với chúng tôi, Ḥasan ibn Ṣāliḥ thuật lại với chúng tôi, từ ‘Abd Allāh ibn Muḥammad ibn ‘Aqīl, từ Jābir, ông nói: “Al-falaq là rạng đông.” Al-‘Awfī thuật lại từ Ibn ‘Abbās rằng: “Al-falaq là rạng đông.” Điều tương tự cũng được thuật lại từ Mujāhid, Sa‘īd ibn Jubayr, ‘Abd Allāh ibn Muḥammad ibn ‘Aqīl, al-Ḥasan, Qatādah, Muḥammad ibn Ka‘b al-Quraẓī, Ibn Zayd và Mālik, từ Zayd ibn Aslam. Al-Quraẓī, Ibn Zayd và Ibn Jarīr nói: Ý nghĩa đó giống như lời Allah Toàn Năng: “Đấng làm rạng đông ló dạng.”
‘Alī ibn Abī Ṭalḥah thuật lại từ Ibn ‘Abbās rằng: “Al-falaq là tạo vật.” Al-Ḍaḥḥāk cũng nói tương tự: Allah ra lệnh cho Nabi của Ngài cầu che chở khỏi toàn thể tạo vật. Ka‘b al-Aḥbār nói: “Al-falaq là một căn nhà trong Jahannam; khi cửa mở, tất cả cư dân Hỏa Ngục đều gào lên vì sức nóng dữ dội.” Ibn Abī Ḥātim thuật lại lời này, rồi nói: Cha tôi thuật lại với chúng tôi, Suhayl ibn ‘Uthmān thuật lại với chúng tôi, từ một người mà ông nêu tên, từ al-Suddī, từ Zayd ibn ‘Alī, từ tổ tiên của họ, rằng họ nói: “Al-falaq là một cái giếng ở đáy Jahannam, có nắp đậy.
Khi nắp được mở, lửa phun ra, khiến Jahannam gào thét vì sức nóng dữ dội của thứ trào ra từ đó.” Điều tương tự cũng được thuật lại từ ‘Amr ibn ‘Absah, al-Suddī và những người khác.
Về điều này có một hadith được quy lên Nabi nhưng không đáng tin. Ibn Jarīr nói: Isḥāq ibn Wahb al-Wāsiṭī thuật lại với tôi, Mas‘ūd ibn Mūsā ibn Mishkān al-Wāsiṭī thuật lại với chúng tôi, Naṣr ibn Khuzaymah al-Khurāsānī thuật lại với chúng tôi, từ Shu‘ayb ibn Ṣafwān, từ Muḥammad ibn Ka‘b al-Quraẓī, từ Abū Hurayrah, từ Nabi ﷺ, Người nói: “Al-falaq là một cái giếng trong Jahannam có nắp đậy.” Chuỗi truyền thuật của hadith này lạ và không xác thực khi quy lên Nabi.
Abū ‘Abd al-Raḥmān al-Ḥublī nói: “Al-falaq là một trong những tên gọi của Jahannam.” Ibn Jarīr nói: Ý kiến đúng là ý kiến đầu tiên, rằng đó là rạng đông. Đây là ý kiến chính xác, cũng là lựa chọn của al-Bukhārī رحمه الله trong Ṣaḥīḥ của ông.
Ông đã kính trọng Sứ giả của Allah ﷺ nên không muốn cưỡi con vật mà Người đang cưỡi. Sau đó Người nói: “Này ‘Uqayb, ngươi không cưỡi lên sao?” — đoạn trích bị đứt — “ở phía sau ta”; al-An‘ām: 96.
“Và khỏi điều xấu của màn đêm khi nó phủ xuống.” Mujāhid nói: “Màn đêm khi nó phủ xuống là lúc mặt trời lặn.” Al-Bukhārī thuật lại lời này từ ông; Ibn Abī Najīḥ cũng thuật lại từ ông. Ibn ‘Abbās, Muḥammad ibn Ka‘b al-Quraẓī, al-Ḍaḥḥāk, Khuṣayf, al-Ḥasan và Qatādah cũng nói rằng đó là đêm khi bóng tối kéo đến.
Al-Zuhrī nói: “Và khỏi điều xấu của màn đêm khi nó phủ xuống” có nghĩa là mặt trời khi lặn. ‘Aṭiyyah và Qatādah nói: Khi đêm phủ xuống, tức là khi nó buông xuống. Abū al-Muhazzim thuật lại từ Abū Hurayrah rằng: “Và khỏi điều xấu của màn đêm khi nó phủ xuống” có nghĩa là một vì sao. Ibn Zayd nói: Người Ả Rập thường gọi sự rơi xuống của sao Thurayyā là al-ghāsiq; bệnh tật và dịch hạch gia tăng khi nó lặn, rồi giảm khi nó mọc.
Ibn Jarīr nói: Những người này có một bản thuật về vấn đề ấy. Naṣr ibn ‘Alī thuật lại với tôi, Bakkār ibn ‘Abd Allāh — cháu gọi Hammām bằng chú — thuật lại với tôi, Muḥammad ibn ‘Abd al-‘Azīz ibn ‘Umar ibn ‘Abd al-Raḥmān ibn ‘Awf thuật lại với chúng tôi, từ cha ông, từ Abū Salamah, từ Abū Hurayrah, từ Nabi ﷺ, Người nói về câu “Và khỏi điều xấu của màn đêm khi nó phủ xuống”: “Đó là ngôi sao khi lặn.” Tôi nói: Hadith này không xác thực khi quy lên Nabi ﷺ.
Ibn Jarīr nói: Những người khác cho rằng đó là mặt trăng. Tôi nói: Chỗ dựa chính của những người theo ý kiến này là điều Imam Aḥmad thuật lại: Abū Dāwūd al-Ḥafarī thuật lại với chúng tôi, từ Ibn Abī Dhi’b, từ al-Ḥārith, từ Abū Salamah, rằng ‘Ā’ishah رضي الله عنها nói: Sứ giả của Allah ﷺ nắm tay tôi, chỉ cho tôi mặt trăng lúc nó mọc rồi nói: “Hãy cầu Allah che chở khỏi điều xấu của màn đêm này khi nó phủ xuống.”
Al-Tirmidhī và al-Nasā’ī thuật lại hadith này trong các sách Tafsir thuộc hai bộ Sunan của họ, từ Muḥammad ibn ‘Abd al-Raḥmān ibn Abī Dhi’b, từ cậu của ông là al-Ḥārith ibn ‘Abd al-Raḥmān, với chuỗi truyền thuật ấy. Al-Tirmidhī nói: Hadith ḥasan ṣaḥīḥ. Nguyên văn là: “Hãy cầu Allah che chở khỏi điều xấu của thứ này, bởi nó là màn đêm khi phủ xuống.” Cách diễn đạt của al-Nasā’ī là: “Hãy cầu Allah che chở khỏi điều xấu của thứ này — đây là màn đêm khi phủ xuống.”
Những người theo ý kiến thứ nhất, rằng đó là đêm khi bóng tối kéo đến, nói: Điều này không mâu thuẫn với quan điểm của chúng tôi, bởi mặt trăng là dấu hiệu của đêm, và nó chỉ có quyền năng trong đêm; các vì sao cũng chỉ chiếu sáng vào ban đêm. Như vậy, điều này vẫn quay về ý chúng tôi đã nói. Allah biết rõ hơn.
Lời Ngài: “Và khỏi điều xấu của những kẻ thổi vào các nút thắt.” Mujāhid, ‘Ikrimah, al-Ḥasan, Qatādah và al-Ḍaḥḥāk nói: Ý nói những nữ phù thủy. Mujāhid nói: “Khi họ đọc bùa và thổi vào các nút thắt.” Ibn Jarīr nói: Ibn ‘Abd al-A‘lā thuật lại với chúng tôi, Ibn Thawr thuật lại với chúng tôi, từ Ma‘mar, từ Ibn Ṭāwūs, từ cha ông, ông nói: “Không có điều gì gần với shirk hơn việc đọc bùa cho rắn độc và người mất trí.”
Trong một hadith khác, Jibrīl đến gặp Sứ giả của Allah ﷺ và nói: “Thưa Muḥammad, Người thấy đau bệnh sao?” Người đáp: “Đúng vậy.” Jibrīl nói: “Nhân danh Allah, tôi đọc bùa cầu chữa lành cho Ngài khỏi mọi căn bệnh gây tổn hại cho Ngài, và khỏi điều xấu của mọi kẻ đố kỵ và ánh mắt độc hại. Cầu Allah chữa lành cho Ngài.”
Có thể đây là lúc Người ﷺ đau yếu vì bị phù phép, rồi Allah Toàn Năng đã ban sức khỏe, chữa lành cho Người, làm cho âm mưu của những phù thủy Do Thái đầy đố kỵ quay lại hại chính họ; kế hoạch hủy diệt họ lại chính là mưu kế của họ, và họ bị phơi bày. Tuy vậy, Sứ giả của Allah ﷺ chưa từng trách mắng người Do Thái ấy dù chỉ một lần; trái lại, Allah đã bảo vệ, chữa lành và ban sức khỏe cho Người.
Imam Aḥmad nói: Abū Mu‘āwiyah thuật lại với chúng tôi, al-A‘mash thuật lại với chúng tôi, từ Yazīd ibn Ḥayyān, từ Zayd ibn Arqam, ông nói: Một người Do Thái đã phù phép Nabi ﷺ, khiến Người đau yếu nhiều ngày. Ông kể: Jibrīl đến với Người và nói: “Một người Do Thái đã phù phép Ngài, thắt cho Ngài những nút buộc trong một cái giếng như thế này như thế kia. Hãy sai người đến lấy chúng.” Sứ giả của Allah ﷺ sai người đi lấy chúng.
Họ tìm thấy và mang đến, rồi tháo các nút. Ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ đứng dậy như thể vừa được tháo khỏi dây trói. Người không nhắc chuyện đó với người Do Thái kia, cũng không nhìn người ấy với vẻ khác thường cho đến khi người ấy chết. Al-Nasā’ī thuật lại từ Hannād, từ Abū Mu‘āwiyah Muḥammad ibn Ḥāzim al-Ḍarīr.
Al-Bukhārī nói trong “Sách Y học” thuộc Ṣaḥīḥ của mình: ‘Abd Allāh ibn Muḥammad thuật lại với chúng tôi, ông nói: Tôi nghe Sufyān ibn ‘Uyaynah nói: Người đầu tiên thuật chuyện này cho chúng tôi là Ibn Jurayj. Ông nói: Gia đình ‘Urwah thuật lại với tôi, từ ‘Urwah. Tôi hỏi Hishām về chuyện này, ông thuật lại với chúng tôi từ cha mình, từ ‘Ā’ishah, bà nói: Sứ giả của Allah ﷺ bị phù phép, đến nỗi Người tưởng rằng mình đã đến với các bà vợ nhưng thực ra chưa hề đến. Sufyān nói: “Đây là mức độ phù phép nghiêm trọng nhất, khi tình trạng như vậy xảy ra.”
Người nói: “Này ‘Ā’ishah, nàng có biết rằng Allah đã cho ta lời giải đáp về điều ta xin Ngài giải đáp không? Hai người đàn ông đến với ta; một người ngồi phía đầu ta, người kia ngồi phía chân ta. Người ngồi phía đầu nói với người kia: ‘Người này bị làm sao?’ Ông ta đáp: ‘Bị phù phép.’
Người kia hỏi: ‘Ai đã phù phép ông ấy?’ Ông ta đáp: ‘Labīd ibn al-A‘ṣam, một người thuộc Banū Zurayq, đồng minh của người Do Thái, vốn là kẻ giả đạo.’ Ông ta hỏi: ‘Dùng vật gì?’ Ông kia đáp: ‘Một chiếc lược và tóc rụng khi chải.’
Ông ta hỏi: ‘Ở đâu?’ Ông kia đáp: ‘Trong bao hoa chà là đực, bên dưới một tảng đá nhô ra trong giếng Dharwān.’”
‘Ā’ishah nói: Người đến giếng và lấy nó lên. Người nói: “Đây là cái giếng mà ta được cho thấy; nước trong giếng như nước ngâm lá móng, còn những cây chà là ở đó như đầu những con quỷ.” Rồi Người lấy vật ấy ra. Tôi hỏi: “Vậy Người không làm phép giải phù sao?”
Người đáp: “Allah đã chữa lành cho ta, và ta không muốn khơi lên điều xấu đối với bất kỳ ai trong nhân loại.” Hadith này cũng được truyền qua ‘Īsā ibn Yūnus, Abū Ḍamrah Anas ibn ‘Iyāḍ, Abū Usāmah và Yaḥyā al-Qaṭṭān. Trong một bản có câu: “Bà nói: Tình trạng kéo dài đến nỗi Người tưởng mình đã làm một việc nhưng thực ra chưa làm.” Bản này còn có câu: “Người ra lệnh lấp giếng.”
Người ta cũng nhắc rằng Ibn Abī al-Zinād và al-Layth ibn Sa‘d đã thuật lại từ Hishām. Muslim thuật lại từ Abū Usāmah Ḥammād ibn Usāmah và ‘Abd Allāh ibn Numayr. Aḥmad thuật lại từ ‘Affān, từ Wahīb, từ Hishām, với chuỗi truyền thuật ấy.
Imam Aḥmad cũng thuật lại từ Ibrāhīm ibn Khālid, từ Rabāḥ, từ Ma‘mar, từ Hishām, từ cha ông, từ ‘Ā’ishah, bà nói: Sứ giả của Allah ﷺ ở trong tình trạng tưởng rằng Người đến với các bà vợ nhưng thực ra không đến, suốt sáu tháng. Hai thiên thần đến với Người; một vị ngồi phía đầu, vị kia phía chân. Một vị hỏi vị kia: “Ông ấy bị làm sao?” Vị kia đáp: “Bị phù phép.”
Vị ấy hỏi: “Ai đã phù phép ông ấy?” Vị kia đáp: “Labīd ibn al-A‘ṣam”, rồi thuật lại phần còn lại của hadith.
Nhà chú giải Qur’an al-Tha‘labī nói trong Tafsir của ông: Ibn ‘Abbās và ‘Ā’ishah رضي الله عنهما nói: Một cậu bé người Do Thái phục vụ Sứ giả của Allah ﷺ. Người Do Thái tìm đến cậu và cứ khuyên dụ cho đến khi cậu lấy được tóc rụng khi chải đầu của Nabi ﷺ cùng một số răng lược, rồi đưa cho người Do Thái để họ dùng làm bùa phù phép Người. Một người trong số họ đứng ra thực hiện việc đó, tên là Ibn al-A‘ṣam. Sau đó hắn giấu vật ấy trong giếng của Banū Zurayq, gọi là Dharwān.
Sứ giả của Allah ﷺ đổ bệnh, tóc trên đầu rụng, và Người ở trong tình trạng tưởng mình đến với các bà vợ nhưng thực ra không đến suốt sáu tháng; Người gầy rộc đi mà không biết điều gì đã xảy đến với mình.
Khi Người đang ngủ, hai thiên thần đến; một vị ngồi phía đầu, vị kia phía chân. Vị ngồi phía chân hỏi vị ngồi phía đầu: “Người này bị làm sao?” Vị kia đáp: “Bị làm bùa.” Vị ấy hỏi: “Bùa gì?” Vị kia đáp: “Phù phép.” Vị ấy hỏi: “Ai phù phép ông ấy?”
Vị kia đáp: “Labīd ibn al-A‘ṣam, người Do Thái.” Vị ấy hỏi: “Hắn phù phép ông ấy bằng thứ gì?” Vị kia đáp: “Bằng một chiếc lược và tóc rụng khi chải.” Vị ấy hỏi: “Nó ở đâu?” Vị kia đáp: “Trong bao hoa chà là đực, bên dưới một tảng đá nhô ra trong giếng Dharwān.”
[Juff là vỏ hoa chà là; rā‘ūfah là một tảng đá nhô ra ở đáy giếng, nơi người kéo nước đứng lên.] Sứ giả của Allah ﷺ tỉnh dậy trong trạng thái bàng hoàng và nói: “Này ‘Ā’ishah, nàng không biết rằng Allah đã cho ta biết căn bệnh của ta sao?” Rồi Sứ giả của Allah ﷺ sai ‘Alī, al-Zubayr và ‘Ammār ibn Yāsir đi. Họ tát nước giếng, nước như nước ngâm lá móng.
Sau đó họ nhấc tảng đá lên và lấy cái bao ra. Trong đó có tóc rụng khi chải đầu Người cùng những răng lược, và một sợi dây được thắt mười hai nút, mỗi nút cắm một cây kim.
Allah Toàn Năng ban xuống hai chương; mỗi khi Nabi đọc một câu, một nút được tháo ra. Khi nút cuối cùng được tháo, Sứ giả của Allah ﷺ cảm thấy nhẹ nhõm, đứng dậy như thể vừa được tháo khỏi dây trói. Jibrīl عليه السلام đọc: “Nhân danh Allah, tôi đọc bùa cầu chữa lành cho Ngài khỏi mọi thứ gây tổn hại cho Ngài, khỏi kẻ đố kỵ và ánh mắt độc hại. Cầu Allah chữa lành cho Ngài.”
Mọi người nói: “Thưa Sứ giả của Allah, chúng ta có nên bắt tên xấu xa ấy và giết hắn không?” Sứ giả của Allah ﷺ đáp: “Allah đã chữa lành cho ta, còn ta không muốn làm dấy lên điều xấu giữa mọi người.”
Al-Tha‘labī dẫn chuyện này mà không nêu chuỗi truyền thuật. Trong đó có những chi tiết lạ, một số chi tiết rất đáng ngờ; một phần có những chứng cứ hỗ trợ từ các bản thuật đã nêu trước. Allah biết rõ hơn. [Đoạn bản gốc có một số từ rời rạc: ‘Alī — cầu Allah hài lòng với ông; Qaṭṭ — Nabi ﷺ; bà nói; Labīd.]
Lời Allah Toàn Năng: “Khỏi điều xấu của những gì Ngài đã tạo ra” có nghĩa là khỏi điều xấu của toàn thể tạo vật. Thābit al-Bunānī và al-Ḥasan al-Baṣrī nói: “Trong số những gì Ngài đã tạo ra có Jahannam, Iblīs và con cháu của hắn.”
Lời Ngài: “Và khỏi điều xấu của những kẻ thổi vào các nút thắt.” Mujāhid, ‘Ikrimah, al-Ḥasan, Qatādah và al-Ḍaḥḥāk nói: Ý nói những nữ phù thủy. Mujāhid nói: “Khi họ đọc bùa và thổi vào các nút thắt.” Ibn Jarīr nói: Ibn ‘Abd al-A‘lā thuật lại với chúng tôi, Ibn Thawr thuật lại với chúng tôi, từ Ma‘mar, từ Ibn Ṭāwūs, từ cha ông, ông nói: “Không có điều gì gần với shirk hơn việc đọc bùa cho rắn độc và người mất trí.”
Trong một hadith khác, Jibrīl đến gặp Sứ giả của Allah ﷺ và nói: “Thưa Muḥammad, Người thấy đau bệnh sao?” Người đáp: “Đúng vậy.” Jibrīl nói: “Nhân danh Allah, tôi đọc bùa cầu chữa lành cho Ngài khỏi mọi căn bệnh gây tổn hại cho Ngài, và khỏi điều xấu của mọi kẻ đố kỵ và ánh mắt độc hại. Cầu Allah chữa lành cho Ngài.”
Có thể đây là lúc Người ﷺ đau yếu vì bị phù phép, rồi Allah Toàn Năng ban sức khỏe, chữa lành cho Người, làm cho âm mưu của những phù thủy Do Thái đầy đố kỵ quay lại hại chính họ; kế hoạch hủy diệt họ lại chính là mưu kế của họ, và họ bị phơi bày. Tuy vậy, Sứ giả của Allah ﷺ chưa từng trách mắng người Do Thái ấy dù chỉ một lần; trái lại, Allah đã bảo vệ, chữa lành và ban sức khỏe cho Người.
Imam Aḥmad nói: Abū Mu‘āwiyah thuật lại với chúng tôi, al-A‘mash thuật lại với chúng tôi, từ Yazīd ibn Ḥayyān, từ Zayd ibn Arqam, ông nói: Một người Do Thái đã phù phép Nabi ﷺ, khiến Người đau yếu nhiều ngày. Ông kể: Jibrīl đến với Người và nói: “Một người Do Thái đã phù phép Ngài, thắt cho Ngài những nút buộc trong một cái giếng như thế này như thế kia. Hãy sai người đến lấy chúng.” Sứ giả của Allah ﷺ sai người đi lấy chúng.
Họ tìm thấy và mang đến, rồi tháo các nút. Ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ đứng dậy như thể vừa được tháo khỏi dây trói. Người không nhắc chuyện đó với người Do Thái kia, cũng không nhìn người ấy với vẻ khác thường cho đến khi người ấy chết. Al-Nasā’ī thuật lại từ Hannād, từ Abū Mu‘āwiyah Muḥammad ibn Ḥāzim al-Ḍarīr.
Al-Bukhārī nói trong “Sách Y học” thuộc Ṣaḥīḥ của mình: ‘Abd Allāh ibn Muḥammad thuật lại với chúng tôi, ông nói: Tôi nghe Sufyān ibn ‘Uyaynah nói: Người đầu tiên thuật chuyện này cho chúng tôi là Ibn Jurayj. Ông nói: Gia đình ‘Urwah thuật lại với tôi, từ ‘Urwah. Tôi hỏi Hishām về chuyện này, ông thuật lại với chúng tôi từ cha mình, từ ‘Ā’ishah, bà nói: Sứ giả của Allah ﷺ bị phù phép, đến nỗi Người tưởng rằng mình đã đến với các bà vợ nhưng thực ra chưa hề đến. Sufyān nói: “Đây là mức độ phù phép nghiêm trọng nhất, khi tình trạng như vậy xảy ra.”
Người nói: “Này ‘Ā’ishah, nàng có biết rằng Allah đã cho ta lời giải đáp về điều ta xin Ngài giải đáp không? Hai người đàn ông đến với ta; một người ngồi phía đầu ta, người kia ngồi phía chân ta. Người ngồi phía đầu nói với người kia: ‘Người này bị làm sao?’ Ông ta đáp: ‘Bị phù phép.’
Người kia hỏi: ‘Ai đã phù phép ông ấy?’ Ông ta đáp: ‘Labīd ibn al-A‘ṣam, một người thuộc Banū Zurayq, đồng minh của người Do Thái, vốn là kẻ giả đạo.’ Ông ta hỏi: ‘Dùng vật gì?’ Ông kia đáp: ‘Một chiếc lược và tóc rụng khi chải.’
Ông ta hỏi: ‘Ở đâu?’ Ông kia đáp: ‘Trong bao hoa chà là đực, bên dưới một tảng đá nhô ra trong giếng Dharwān.’”
‘Ā’ishah nói: Người đến giếng và lấy nó lên. Người nói: “Đây là cái giếng mà ta được cho thấy; nước trong giếng như nước ngâm lá móng, còn những cây chà là ở đó như đầu những con quỷ.” Rồi Người lấy vật ấy ra. Tôi hỏi: “Vậy Người không làm phép giải phù sao?”
Người đáp: “Allah đã chữa lành cho ta, và ta không muốn khơi lên điều xấu đối với bất kỳ ai trong nhân loại.” Hadith này cũng được truyền qua ‘Īsā ibn Yūnus, Abū Ḍamrah Anas ibn ‘Iyāḍ, Abū Usāmah và Yaḥyā al-Qaṭṭān. Trong một bản có câu: “Bà nói: Tình trạng kéo dài đến nỗi Người tưởng mình đã làm một việc nhưng thực ra chưa làm.” Bản này còn có câu: “Người ra lệnh lấp giếng.”
Người ta cũng nhắc rằng Ibn Abī al-Zinād và al-Layth ibn Sa‘d đã thuật lại từ Hishām. Muslim thuật lại từ Abū Usāmah Ḥammād ibn Usāmah và ‘Abd Allāh ibn Numayr. Aḥmad thuật lại từ ‘Affān, từ Wahīb, từ Hishām, với chuỗi truyền thuật ấy.
Imam Aḥmad cũng thuật lại từ Ibrāhīm ibn Khālid, từ Rabāḥ, từ Ma‘mar, từ Hishām, từ cha ông, từ ‘Ā’ishah, bà nói: Sứ giả của Allah ﷺ ở trong tình trạng tưởng rằng Người đến với các bà vợ nhưng thực ra không đến, suốt sáu tháng. Hai thiên thần đến với Người; một vị ngồi phía đầu, vị kia phía chân. Một vị hỏi vị kia: “Ông ấy bị làm sao?” Vị kia đáp: “Bị phù phép.”
Vị ấy hỏi: “Ai đã phù phép ông ấy?” Vị kia đáp: “Labīd ibn al-A‘ṣam”, rồi thuật lại phần còn lại của hadith.
Nhà chú giải Qur’an al-Tha‘labī nói trong Tafsir của ông: Ibn ‘Abbās và ‘Ā’ishah رضي الله عنهما nói: Một cậu bé người Do Thái phục vụ Sứ giả của Allah ﷺ. Người Do Thái tìm đến cậu và cứ khuyên dụ cho đến khi cậu lấy được tóc rụng khi chải đầu của Nabi ﷺ cùng một số răng lược, rồi đưa cho người Do Thái để họ dùng làm bùa phù phép Người. Một người trong số họ đứng ra thực hiện việc đó, tên là Ibn al-A‘ṣam. Sau đó hắn giấu vật ấy trong giếng của Banū Zurayq, gọi là Dharwān.
Sứ giả của Allah ﷺ đổ bệnh, tóc trên đầu rụng, và Người ở trong tình trạng tưởng mình đến với các bà vợ nhưng thực ra không đến suốt sáu tháng; Người gầy rộc đi mà không biết điều gì đã xảy đến với mình.
Khi Người đang ngủ, hai thiên thần đến; một vị ngồi phía đầu, vị kia phía chân. Vị ngồi phía chân hỏi vị ngồi phía đầu: “Người này bị làm sao?” Vị kia đáp: “Bị làm bùa.” Vị ấy hỏi: “Bùa gì?” Vị kia đáp: “Phù phép.” Vị ấy hỏi: “Ai phù phép ông ấy?”
Vị kia đáp: “Labīd ibn al-A‘ṣam, người Do Thái.” Vị ấy hỏi: “Hắn phù phép ông ấy bằng thứ gì?” Vị kia đáp: “Bằng một chiếc lược và tóc rụng khi chải.” Vị ấy hỏi: “Nó ở đâu?” Vị kia đáp: “Trong bao hoa chà là đực, bên dưới một tảng đá nhô ra trong giếng Dharwān.”
[Juff là vỏ hoa chà là; rā‘ūfah là một tảng đá nhô ra ở đáy giếng, nơi người kéo nước đứng lên.] Sứ giả của Allah ﷺ tỉnh dậy trong trạng thái bàng hoàng và nói: “Này ‘Ā’ishah, nàng không biết rằng Allah đã cho ta biết căn bệnh của ta sao?” Rồi Sứ giả của Allah ﷺ sai ‘Alī, al-Zubayr và ‘Ammār ibn Yāsir đi. Họ tát nước giếng, nước như nước ngâm lá móng.
Sau đó họ nhấc tảng đá lên và lấy cái bao ra. Trong đó có tóc rụng khi chải đầu Người cùng những răng lược, và một sợi dây được thắt mười hai nút, mỗi nút cắm một cây kim.
Allah Toàn Năng ban xuống hai chương; mỗi khi Nabi đọc một câu, một nút được tháo ra. Khi nút cuối cùng được tháo, Sứ giả của Allah ﷺ cảm thấy nhẹ nhõm, đứng dậy như thể vừa được tháo khỏi dây trói. Jibrīl عليه السلام đọc: “Nhân danh Allah, tôi đọc bùa cầu chữa lành cho Ngài khỏi mọi thứ gây tổn hại cho Ngài, khỏi kẻ đố kỵ và ánh mắt độc hại. Cầu Allah chữa lành cho Ngài.”
Mọi người nói: “Thưa Sứ giả của Allah, chúng ta có nên bắt tên xấu xa ấy và giết hắn không?” Sứ giả của Allah ﷺ đáp: “Allah đã chữa lành cho ta, còn ta không muốn làm dấy lên điều xấu giữa mọi người.”
Al-Tha‘labī dẫn chuyện này mà không nêu chuỗi truyền thuật. Trong đó có những chi tiết lạ, một số chi tiết rất đáng ngờ; một phần có những chứng cứ hỗ trợ từ các bản thuật đã nêu trước. Allah biết rõ hơn. [Đoạn bản gốc có một số từ rời rạc: ‘Alī — cầu Allah hài lòng với ông; Qaṭṭ — Nabi ﷺ; bà nói; Labīd.]
Sa‘īd ibn Jubayr thuật lại từ Ibn ‘Abbās, về câu “al-waswās al-khannās” [kẻ thì thầm lẩn tránh], ông nói: “Shayṭān ngồi rình trên trái tim con cháu Adam. Khi người ấy lơ đãng và xao nhãng, hắn thì thầm; khi người ấy nhớ đến Allah, hắn rút lui.” Mujāhid và Qatādah cũng nói tương tự. Al-Mu‘tamir ibn Sulaymān thuật lại từ cha mình: “Người ta kể với tôi rằng Shayṭān, hay kẻ thì thầm, thổi vào trái tim con cháu Adam lúc buồn đau và khi vui mừng; nhưng khi người ấy nhớ đến Allah, hắn rút lui.”
Al-‘Awfī thuật lại từ Ibn ‘Abbās về câu “al-waswās”, ông nói: “Đó là Shayṭān; hắn ra lệnh, nhưng khi người ta vâng theo thì hắn rút lui.”
Đây là ba thuộc tính của Rabb عز وجل: tính Rabb, quyền thống trị và tính thần linh. Ngài là Rabb, Đấng Chủ Tể và Đấng được thờ phụng của mọi vật. Tất cả mọi thứ đều do Ngài tạo ra, thuộc quyền sở hữu của Ngài và là tôi tớ của Ngài. Vì vậy, Allah ra lệnh cho người cầu xin sự che chở hãy cầu nương náu nơi Đấng mang các thuộc tính ấy, tránh khỏi điều xấu của kẻ thì thầm lẩn tránh.
Kẻ ấy là Shayṭān được giao nhiệm vụ cám dỗ con người; không một ai trong con cháu Adam mà không có một qarin [bạn đồng hành thuộc loài jinn] tô điểm cho người ấy những điều đồi bại và cố hết sức làm hư hỏng người ấy. Người được bảo vệ là người được Allah bảo vệ. Trong Ṣaḥīḥ có xác nhận rằng Nabi ﷺ nói: “Không ai trong các ngươi mà không được giao cho một qarin.” Họ hỏi: “Cả Ngài nữa, thưa Sứ giả của Allah?”
Người đáp: “Cả ta nữa, nhưng Allah đã giúp ta chế ngự hắn, nên hắn đã quy phục; hắn chỉ bảo ta điều tốt.”
Trong Ṣaḥīḥ cũng có hadith của Anas về chuyện Ṣafiyyah đến thăm Nabi ﷺ khi Người đang i‘tikāf, rồi Người đưa bà về nhà vào ban đêm. Hai người đàn ông thuộc Ansār gặp Người; khi nhìn thấy Sứ giả của Allah ﷺ, họ bước nhanh đi. Sứ giả của Allah nói: “Cứ bình tĩnh, đó là Ṣafiyyah bint Ḥuyayy.” Họ đáp: “Subḥān Allāh, thưa Sứ giả của Allah!”
Người nói: “Quả thật Shayṭān chạy trong con cháu Adam như máu lưu thông, và ta sợ hắn gieo vào lòng hai người điều gì đó — hay Người nói: điều xấu.”
Ḥāfiẓ Abū Ya‘lā al-Mawṣilī nói: Muḥammad ibn Baḥr thuật lại với chúng tôi, ‘Adī ibn Abī ‘Imārah thuật lại với chúng tôi, Ziyād al-Numayrī thuật lại với chúng tôi, từ Anas ibn Mālik, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Shayṭān đặt mõm của hắn trên trái tim con cháu Adam. Nếu người ấy nhớ đến Allah, hắn rút lui; nếu người ấy quên, hắn nuốt chửng trái tim người ấy. Đó chính là kẻ thì thầm lẩn tránh.” Hadith này gharīb.
Imam Aḥmad nói: Muḥammad ibn Ja‘far thuật lại với chúng tôi, Shu‘bah thuật lại với chúng tôi, từ ‘Āṣim; tôi nghe Abū Tamīmah kể lại từ người ngồi sau Nabi ﷺ trên lưng ngựa, ông nói: Con lừa của Nabi ﷺ vấp ngã, tôi nói: “Cầu Shayṭān bị tiêu diệt.” Nabi ﷺ nói: “Đừng nói: ‘Cầu Shayṭān bị tiêu diệt’, bởi khi ngươi nói vậy, hắn sẽ tự cao và nói: ‘Ta đã quật ngã nó bằng sức mạnh của ta.’ Còn khi ngươi nói: ‘Bismillāh’, hắn sẽ nhỏ lại cho đến khi chỉ còn như con ruồi.” Chỉ Aḥmad thuật lại hadith này.
Chuỗi truyền thuật của hadith tốt và vững. Hadith cho thấy hễ trái tim nhớ đến Allah thì Shayṭān nhỏ lại và bị khuất phục; nếu không nhớ đến Allah, hắn trở nên lớn mạnh và thắng thế.
Imam Aḥmad nói: Abū Bakr al-Ḥanafī thuật lại với chúng tôi, al-Ḍaḥḥāk ibn ‘Uthmān thuật lại với chúng tôi, từ Sa‘īd al-Maqburī, từ Abū Hurayrah, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Khi một người trong các ngươi ở trong masjid, Shayṭān đến, bám lấy người ấy như người ta bám lấy con vật cưỡi. Khi người ấy yên lặng để hắn nắm quyền, hắn sẽ siết chặt người ấy — hoặc ghì cương người ấy.” Abū Hurayrah nói: “Các ngươi cũng thấy điều đó: người bị ghì chặt thì thấy người ấy nghiêng ngả — như thế — mà không nhớ đến Allah; còn người bị cương chế thì há miệng, không nhớ đến Allah عز وجل.” Chỉ Aḥmad thuật lại hadith này.
Liệu ý nghĩa này chỉ riêng về con cháu Adam như bề ngoài cho thấy, hay bao gồm cả con cháu Adam và jinn? Có hai ý kiến. Theo một cách hiểu, họ được bao hàm trong từ “nhân loại” theo lối dùng từ bao quát. Ibn Jarīr nói: Từ “những người đàn ông” đã được dùng để chỉ jinn, nên gọi họ là “nhân loại” cũng không có gì lạ.
Đây là ba thuộc tính của Rabb عز وجل: tính Rabb, quyền thống trị và tính thần linh. Ngài là Rabb, Đấng Chủ Tể và Đấng được thờ phụng của mọi vật. Tất cả mọi thứ đều do Ngài tạo ra, thuộc quyền sở hữu của Ngài và là tôi tớ của Ngài. Vì vậy, Allah ra lệnh cho người cầu xin sự che chở hãy cầu nương náu nơi Đấng mang các thuộc tính ấy, tránh khỏi điều xấu của kẻ thì thầm lẩn tránh.
Kẻ ấy là Shayṭān được giao nhiệm vụ cám dỗ con người; không một ai trong con cháu Adam mà không có một qarin tô điểm cho người ấy những điều đồi bại và cố hết sức làm hư hỏng người ấy. Người được bảo vệ là người được Allah bảo vệ. Trong Ṣaḥīḥ có xác nhận rằng Nabi ﷺ nói: “Không ai trong các ngươi mà không được giao cho một qarin.” Họ hỏi: “Cả Ngài nữa, thưa Sứ giả của Allah?”
Người đáp: “Cả ta nữa, nhưng Allah đã giúp ta chế ngự hắn, nên hắn đã quy phục; hắn chỉ bảo ta điều tốt.”
Trong Ṣaḥīḥ cũng có hadith của Anas về chuyện Ṣafiyyah đến thăm Nabi ﷺ khi Người đang i‘tikāf, rồi Người đưa bà về nhà vào ban đêm. Hai người đàn ông thuộc Ansār gặp Người; khi nhìn thấy Sứ giả của Allah ﷺ, họ bước nhanh đi. Sứ giả của Allah nói: “Cứ bình tĩnh, đó là Ṣafiyyah bint Ḥuyayy.” Họ đáp: “Subḥān Allāh, thưa Sứ giả của Allah!”
Người nói: “Quả thật Shayṭān chạy trong con cháu Adam như máu lưu thông, và ta sợ hắn gieo vào lòng hai người điều gì đó — hay Người nói: điều xấu.”
Ḥāfiẓ Abū Ya‘lā al-Mawṣilī nói: Muḥammad ibn Baḥr thuật lại với chúng tôi, ‘Adī ibn Abī ‘Imārah thuật lại với chúng tôi, Ziyād al-Numayrī thuật lại với chúng tôi, từ Anas ibn Mālik, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Shayṭān đặt mõm của hắn trên trái tim con cháu Adam. Nếu người ấy nhớ đến Allah, hắn rút lui; nếu người ấy quên, hắn nuốt chửng trái tim người ấy. Đó chính là kẻ thì thầm lẩn tránh.” Hadith này gharīb.
Imam Aḥmad nói: Muḥammad ibn Ja‘far thuật lại với chúng tôi, Shu‘bah thuật lại với chúng tôi, từ ‘Āṣim; tôi nghe Abū Tamīmah kể lại từ người ngồi sau Nabi ﷺ trên lưng ngựa, ông nói: Con lừa của Nabi ﷺ vấp ngã, tôi nói: “Cầu Shayṭān bị tiêu diệt.” Nabi ﷺ nói: “Đừng nói: ‘Cầu Shayṭān bị tiêu diệt’, bởi khi ngươi nói vậy, hắn sẽ tự cao và nói: ‘Ta đã quật ngã nó bằng sức mạnh của ta.’ Còn khi ngươi nói: ‘Bismillāh’, hắn sẽ nhỏ lại cho đến khi chỉ còn như con ruồi.” Chỉ Aḥmad thuật lại hadith này.
Chuỗi truyền thuật của hadith tốt và vững. Hadith cho thấy hễ trái tim nhớ đến Allah thì Shayṭān nhỏ lại và bị khuất phục; nếu không nhớ đến Allah, hắn trở nên lớn mạnh và thắng thế.
Imam Aḥmad nói: Abū Bakr al-Ḥanafī thuật lại với chúng tôi, al-Ḍaḥḥāk ibn ‘Uthmān thuật lại với chúng tôi, từ Sa‘īd al-Maqburī, từ Abū Hurayrah, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Khi một người trong các ngươi ở trong masjid, Shayṭān đến, bám lấy người ấy như người ta bám lấy con vật cưỡi. Khi người ấy yên lặng để hắn nắm quyền, hắn sẽ siết chặt người ấy — hoặc ghì cương người ấy.” Abū Hurayrah nói: “Các ngươi cũng thấy điều đó: người bị ghì chặt thì thấy người ấy nghiêng ngả — như thế — mà không nhớ đến Allah; còn người bị cương chế thì há miệng, không nhớ đến Allah عز وجل.” Chỉ Aḥmad thuật lại hadith này.
Đây là ba thuộc tính của Rabb عز وجل: tính Rabb, quyền thống trị và tính thần linh. Ngài là Rabb, Đấng Chủ Tể và Đấng được thờ phụng của mọi vật. Tất cả mọi thứ đều do Ngài tạo ra, thuộc quyền sở hữu của Ngài và là tôi tớ của Ngài. Vì vậy, Allah ra lệnh cho người cầu xin sự che chở hãy cầu nương náu nơi Đấng mang các thuộc tính ấy, tránh khỏi điều xấu của kẻ thì thầm lẩn tránh.
Kẻ ấy là Shayṭān được giao nhiệm vụ cám dỗ con người; không một ai trong con cháu Adam mà không có một qarin tô điểm cho người ấy những điều đồi bại và cố hết sức làm hư hỏng người ấy. Người được bảo vệ là người được Allah bảo vệ. Trong Ṣaḥīḥ có xác nhận rằng Nabi ﷺ nói: “Không ai trong các ngươi mà không được giao cho một qarin.” Họ hỏi: “Cả Ngài nữa, thưa Sứ giả của Allah?”
Người đáp: “Cả ta nữa, nhưng Allah đã giúp ta chế ngự hắn, nên hắn đã quy phục; hắn chỉ bảo ta điều tốt.”
Trong Ṣaḥīḥ cũng có hadith của Anas về chuyện Ṣafiyyah đến thăm Nabi ﷺ khi Người đang i‘tikāf, rồi Người đưa bà về nhà vào ban đêm. Hai người đàn ông thuộc Ansār gặp Người; khi nhìn thấy Sứ giả của Allah ﷺ, họ bước nhanh đi. Sứ giả của Allah nói: “Cứ bình tĩnh, đó là Ṣafiyyah bint Ḥuyayy.” Họ đáp: “Subḥān Allāh, thưa Sứ giả của Allah!”
Người nói: “Quả thật Shayṭān chạy trong con cháu Adam như máu lưu thông, và ta sợ hắn gieo vào lòng hai người điều gì đó — hay Người nói: điều xấu.”
Ḥāfiẓ Abū Ya‘lā al-Mawṣilī nói: Muḥammad ibn Baḥr thuật lại với chúng tôi, ‘Adī ibn Abī ‘Imārah thuật lại với chúng tôi, Ziyād al-Numayrī thuật lại với chúng tôi, từ Anas ibn Mālik, ông nói: Sứ giả của Allah ﷺ nói: “Shayṭān đặt mõm của hắn trên trái tim con cháu Adam. Nếu người ấy nhớ đến Allah, hắn rút lui; nếu người ấy quên, hắn nuốt chửng trái tim người ấy. Đó chính là kẻ thì thầm lẩn tránh.” Hadith này gharīb.
Imam Aḥmad nói: Muḥammad ibn Ja‘far thuật lại với chúng tôi, Shu‘bah thuật lại với chúng tôi, từ ‘Āṣim; tôi nghe Abū Tamīmah kể lại từ người ngồi sau Nabi ﷺ trên lưng ngựa, ông nói: Con lừa của Nabi ﷺ vấp ngã, tôi nói: “Cầu Shayṭān bị tiêu diệt.” Nabi ﷺ nói: “Đừng nói: ‘Cầu Shayṭān bị tiêu diệt’, bởi khi ngươi nói vậy, hắn sẽ tự cao và nói: ‘Ta đã quật ngã nó bằng sức mạnh của ta.’ Còn khi ngươi nói: ‘Bismillāh’, hắn sẽ nhỏ lại cho đến khi chỉ còn như con ruồi.” Chỉ Aḥmad thuật lại hadith này.
Chuỗi truyền thuật của hadith tốt và vững. Hadith cho thấy hễ trái tim nhớ đến Allah thì Shayṭān nhỏ lại và bị khuất phục; nếu không nhớ đến Allah, hắn trở nên lớn mạnh và thắng thế.
Rồi Allah giải thích: “Trong số jinn và loài người.” Điều này củng cố ý kiến thứ hai. Cũng có ý kiến cho rằng câu “trong số jinn và loài người” giải thích về những kẻ thì thầm trong lòng người: đó là những Shayṭān thuộc loài người và jinn, như lời Allah Toàn Năng: “Và như thế, TA đã tạo cho mỗi vị Nabi một kẻ thù: những Shayṭān trong loài người và jinn; chúng truyền cho nhau những lời hoa mỹ để lừa gạt.”
Imam Aḥmad nói: Wakī‘ thuật lại với chúng tôi, al-Mas‘ūdī thuật lại với chúng tôi, Abū ‘Umar al-Dimashqī thuật lại với chúng tôi, ‘Ubayd ibn al-Khashkhāsh thuật lại với chúng tôi, từ Abū Dharr, ông nói: Tôi đến gặp Sứ giả của Allah ﷺ khi Người đang ở trong masjid, rồi ngồi xuống. Người nói: “Này Abū Dharr, ngươi đã cầu nguyện chưa?” Tôi đáp: “Chưa.” Người nói: “Hãy đứng dậy cầu nguyện.”
Tôi đứng dậy cầu nguyện, rồi ngồi xuống. Người nói: “Này Abū Dharr, hãy cầu Allah che chở khỏi điều xấu của những Shayṭān thuộc loài người và jinn.” Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, loài người cũng có Shayṭān sao?” Người đáp: “Có.”
Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, vậy lễ nguyện Salah thì sao?” Người đáp: “Đó là điều tốt đẹp được đặt ra; ai muốn thì cầu nguyện ít, ai muốn thì cầu nguyện nhiều.” Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, vậy nhịn chay thì sao?” Người đáp: “Đó là nghĩa vụ mang lại phần thưởng tương xứng, và với Allah còn có phần ban thêm.”
Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, còn bố thí?” Người đáp: “Được nhân lên nhiều lần.” Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, việc bố thí nào tốt nhất?” Người đáp: “Sự cố gắng của người túng thiếu, hoặc kín đáo giúp đỡ người nghèo.”
Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, vị Nabi nào đầu tiên?” Người đáp: “Ādam.” Tôi hỏi: “Người có phải là Nabi không?” Người đáp: “Có, một vị Nabi được Allah phán truyền.” Tôi hỏi: “Có bao nhiêu vị được cử đi làm sứ giả?” Người đáp: “Ba trăm mười mấy vị, một đoàn đông đảo.”
Một lần khác Người nói: “Mười lăm.” Tôi hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, trong những điều được ban xuống cho Ngài, điều nào vĩ đại nhất?” Người đáp: “Āyat al-Kursī: ‘Allah, không có thần linh nào xứng đáng được thờ phụng ngoài Ngài, Đấng Hằng Sống, Đấng Tự Hữu và duy trì vạn vật.’” Al-Nasā’ī thuật lại từ Abū ‘Umar al-Dimashqī, với chuỗi truyền thuật ấy.
Abū Ḥātim ibn Ḥibbān đã đưa hadith này vào Ṣaḥīḥ của mình với một đường truyền khác và một bản thuật rất dài; Allah biết rõ hơn.
Imam Aḥmad nói: Wakī‘ thuật lại với chúng tôi, từ Sufyān, từ Manṣūr, từ Dharr ibn ‘Abd Allāh al-Hamdānī, từ ‘Abd Allāh ibn Shaddād, từ Ibn ‘Abbās, ông nói: Một người đến gặp Nabi ﷺ và thưa: “Thưa Sứ giả của Allah, con tự nghĩ đến một điều mà thà rơi từ trời xuống còn hơn nói ra.” Nabi ﷺ nói: “Allāhu akbar, Allāhu akbar! Mọi lời ca ngợi thuộc về Allah, Đấng đã khiến âm mưu của hắn chỉ còn là lời thì thầm.” Abū Dāwūd và al-Nasā’ī thuật lại từ Manṣūr — al-Nasā’ī bổ sung: và al-A‘mash — cả hai đều thuật lại từ Dharr, với chuỗi truyền thuật ấy.
Kết thúc phần Tafsir. Mọi lời ca ngợi và ân huệ đều thuộc về Allah; mọi lời ca ngợi đều thuộc về Allah, Rabb của toàn thể vũ trụ. Cầu Allah ban phúc lành và bình an cho chủ nhân của chúng ta, Muḥammad, cùng gia quyến và toàn thể bạn đạo của Người. Cầu Allah hài lòng về tất cả các Ṣaḥābah.
Allah là Đấng chúng tôi cần đến và là Đấng bảo hộ tốt nhất. Bản thảo được hoàn tất vào ngày mười tháng Jumādā al-Ūlā, năm 1085. Mọi lời ca ngợi chỉ thuộc về Ngài. Al-An‘ām: 112.
Tafsir của al-Baghawi
“Và khỏi điều ác của bóng đêm khi nó phủ xuống.” Abu al-Hasan al-Sarakhsi thuật lại với chúng tôi; Zahir ibn Ahmad thuật lại với chúng tôi; Ja‘far ibn Muhammad al-Mughallis thuật lại với chúng tôi; Harun ibn Ishaq al-Hamdani thuật lại với chúng tôi; Waki‘ thuật lại với chúng tôi, từ Ibn Abi Dhi’b, từ cậu ruột của ông là al-Harith ibn ‘Abd al-Rahman, từ Abu Salamah, từ ‘A’ishah, bà nói: “Nhà Tiên tri ﷺ nắm tay tôi, nhìn mặt trăng rồi nói: ‘Này ‘A’ishah, hãy cầu Allah che chở khỏi điều ác của bóng đêm khi nó phủ xuống. Đây là bóng đêm khi nó phủ xuống.’”
Ý nghĩa của lời này là: mặt trăng khi bị nguyệt thực, trở nên tối đen. “Phủ xuống” nghĩa là đi vào tình trạng nguyệt thực, bắt đầu khuất lặn và tối sầm.
Ibn ‘Abbas nói: “Al-ghasiq” là đêm khi bóng tối từ phía đông kéo đến, tràn vào mọi vật và làm chúng tối đen. “Al-ghasaq” có nghĩa là bóng tối; người ta nói: “Đêm trở nên tối” khi trời tối đen. Đây là quan điểm của al-Hasan và Mujahid: nghĩa là đêm khi nó kéo đến và buông xuống. “Al-wuqub” là sự đi vào; ý nói đêm bắt đầu khi mặt trời lặn.
Maqatil nói: Ý nói bóng đêm, khi màu đen của nó tràn vào ánh sáng ban ngày. Có ý kiến nói đêm được gọi là “ghasiq” vì nó lạnh hơn ban ngày; “ghasaq” nghĩa là cái lạnh. Ibn Zayd nói: Ý nói chòm sao Thuraiyya khi nó lặn. Người ta cũng nói rằng bệnh tật gia tăng khi chòm sao ấy lặn và thuyên giảm khi nó mọc.
“Và khỏi điều ác của những kẻ thổi vào các nút thắt”: ý nói những nữ phù thủy thổi vào các nút thắt của sợi chỉ trong lúc đọc thần chú trên đó. Abu ‘Ubaydah nói: Họ là các con gái của Labid ibn al-A‘sam, những kẻ đã phù phép Nhà Tiên tri ﷺ.
“Và khỏi điều ác của kẻ ganh ghét khi hắn ganh ghét”: ý nói người Do Thái, bởi họ ganh ghét Nhà Tiên tri ﷺ. [Surah này được ban xuống tại Madinah]
“Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của rạng đông.” Ibn ‘Abbas và ‘A’ishah رضي الله عنهما nói: Có một cậu bé Do Thái phục vụ Nhà Tiên tri ﷺ. Người Do Thái liên tục tác động đến cậu cho đến khi cậu lấy được tóc chải từ đầu Nhà Tiên tri và vài chiếc răng trên lược của Người, rồi đưa chúng cho người Do Thái để họ dùng làm bùa phép. Người đứng ra thực hiện việc đó là Labid ibn al-A‘sam, một người Do Thái.
Vì vậy, hai surah này được ban xuống liên quan đến chuyện ấy.
Abu Hamid Ahmad ibn ‘Abd Allah al-Salihi thuật lại với chúng tôi; Abu Sa‘id Muhammad ibn Musa al-Sayrafi thuật lại với chúng tôi; Abu al-‘Abbas Muhammad ibn Ya‘qub al-Asamm thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn ‘Abd Allah ibn… thuật lại với chúng tôi; Anas ibn ‘Iyad thuật lại với chúng tôi, từ cha ông, từ ‘A’ishah, rằng Nhà Tiên tri ﷺ đã bị phù phép đến nỗi Người tưởng rằng mình đã làm một việc gì đó, trong khi Người không hề làm. Người cầu xin Chúa của mình, rồi nói: “Nàng có biết Allah Tối Cao đã chỉ cho ta biết điều ta cầu Người chỉ cho ta biết không?” ‘A’ishah hỏi: “Thưa Sứ giả của Allah, đó là chuyện gì?”
Người nói: “Hai người đàn ông đến gặp ta; một người ngồi bên đầu ta, người kia ngồi bên chân ta. Một người hỏi bạn mình: ‘Người này mắc bệnh gì?’ Người kia đáp: ‘Ông ấy bị yểm bùa.’ Người hỏi: ‘Ai đã yểm bùa ông ấy?’ Người kia đáp: ‘Labid ibn al-A‘sam.’
Người hỏi: ‘Bằng thứ gì?’ Người kia đáp: ‘Bằng chiếc lược, tóc chải và bao hoa chà là đực.’ Người hỏi: ‘Nó ở đâu?’ Người kia đáp: ‘Ở Dhurwan’” — Dhurwan là một cái giếng thuộc bộ tộc Banu Zurayq.
‘A’ishah nói: Sứ giả Allah ﷺ đến đó rồi trở về với ‘A’ishah và nói: “Thề bởi Allah, nước giếng ấy trông như nước henna ngâm, còn những cây chà là ở đó trông như đầu quỷ.” Bà nói: Tôi hỏi Người: “Thưa Sứ giả của Allah, sao Người không lấy nó ra?” Người đáp: “Allah đã chữa lành cho ta rồi, nên ta không muốn khơi lên điều ác giữa mọi người.” Người ta thuật lại rằng vật ấy nằm dưới một tảng đá trong giếng.
Họ nhấc tảng đá lên và lấy ra bao hoa chà là; trong đó có tóc chải từ đầu Người và những chiếc răng trên lược của Người.
Al-Mutahhar ibn ‘Ali al-Farisi thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn Ibrahim al-Salihani thuật lại với chúng tôi; ‘Abd Allah ibn Muhammad ibn Ja‘far, Abu al-Shaykh al-Hafiz, thuật lại với chúng tôi; Ibn Abi ‘Asim thuật lại với chúng tôi; Abu Bakr ibn Abi Shaybah thuật lại với chúng tôi; Abu Mu‘awiyah thuật lại với chúng tôi, từ al-A‘mash, từ Yazid ibn Hayyan, từ Zayd ibn Arqam, ông nói: Một người Do Thái đã phù phép Nhà Tiên tri ﷺ. Ông kể: Người lâm bệnh vì việc ấy trong nhiều ngày. Jibril đến gặp Người và nói: “Một người Do Thái đã phù phép ông và thắt những nút bùa chú cho ông.”
Sứ giả Allah ﷺ sai ‘Ali đi lấy chúng ra. ‘Ali mang chúng về; mỗi khi một nút được tháo ra, Người lại cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Rồi Sứ giả Allah đứng dậy, như thể vừa được cởi khỏi dây trói. Người không kể chuyện ấy cho người Do Thái biết, và họ cũng chẳng bao giờ nhận thấy điều đó trên nét mặt Người.
Maqatil và al-Kalbi nói: Bùa được thắt vào một sợi dây thành mười một nút. Có ý kiến nói các nút được ghim bằng kim. Allah ban xuống hai surah này, gồm mười một câu: Surah al-Falaq có năm câu và Surah al-Nas có sáu câu. Mỗi khi một câu được đọc, một nút lại được tháo, cho đến khi tất cả các nút đều được tháo hết.
Nhà Tiên tri ﷺ đứng dậy như thể vừa được cởi khỏi dây trói. Người ta thuật lại rằng bùa phép kéo dài sáu tháng, và tình trạng của Người trở nên nặng nề trong ba đêm; rồi hai surah cầu che chở được ban xuống.
Isma‘il ibn ‘Abd al-Qahir thuật lại với chúng tôi; ‘Abd al-Ghafir ibn Muhammad thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn ‘Isa al-Juludi thuật lại với chúng tôi; Ibrahim ibn Muhammad ibn Sufyan thuật lại với chúng tôi; Muslim ibn al-Hajjaj thuật lại với chúng tôi; Bishr ibn Hilal al-Sawwaf thuật lại với chúng tôi; ‘Abd al-‘Aziz ibn Suhayb thuật lại với chúng tôi, từ Abu Nadr, từ Abu Sa‘id, rằng Jibril عليه السلام đến gặp Nhà Tiên tri ﷺ và nói: “Thưa Muhammad, Ngài có thấy đau không?” Người đáp: “Có.”
Jibril nói: “Nhân danh Allah, tôi đọc lời cầu chữa lành cho Ngài khỏi mọi thứ gây tổn hại đến Ngài, khỏi điều ác của mọi linh hồn và con mắt ganh ghét. Cầu Allah chữa lành cho Ngài. Nhân danh Allah, tôi đọc lời cầu chữa lành cho Ngài; Allah sẽ chữa lành cho Ngài.”
Lời của Allah, Đấng Cao Quý và Toàn năng: “Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của rạng đông.” Ý nói “rạng đông” là buổi sáng. Đây là quan điểm của Jabir ibn ‘Abd Allah, al-Hasan, Sa‘id ibn Jubayr, Mujahid, Qatadah và đa số các nhà chú giải Qur’an. Đó cũng là cách truyền thuật của al-‘Awfi từ Ibn ‘Abbas, căn cứ vào lời Ngài: “Đấng làm rạng đông bừng sáng.”
Có lời truyền từ Ibn ‘Abbas rằng “al-falaq” là một nhà tù trong Hỏa Ngục. Al-Kalbi nói: Đó là một thung lũng trong Hỏa Ngục. Al-Dahhak nói: Ý nói các tạo vật; đây là cách truyền thuật của al-Walibi từ Ibn ‘Abbas. Nghĩa thứ nhất là cách hiểu nổi tiếng.
[Trong bản chép có đoạn văn rời, không rõ nghĩa: “Fa-dabbat; ‘Abd al-Hakam; Hisham; ‘Abd al-Warith.”] “Khỏi điều ác của những gì Ngài đã tạo ra.” [Surah này được ban xuống tại Madinah]
“Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của nhân loại.” Đó là:
“Đấng thì thầm vào lòng người”: bằng lời nói kín đáo, ý nghĩa của nó đi đến trái tim mà không cần nghe thấy. “Vua của nhân loại.” “Thần linh của nhân loại.”
“Khỏi điều ác của kẻ thì thầm lẩn khuất”: ý nói Shaytan. Từ “waswas” có thể là danh động từ hoặc danh từ. Al-Zajjaj nói: Ý nói Shaytan, kẻ chuyên thì thầm. “Al-khannas” là kẻ lùi lại; Shaytan bám trụ trên trái tim con người.
Khi người ta tưởng nhớ Allah, hắn rút lui; khi họ lơ là, hắn thì thầm cám dỗ.
Qatadah nói: “Al-khannas” có vòi giống vòi chó, nằm trong lồng ngực con người. Khi người bề tôi tưởng nhớ Thượng Đế, hắn rút lui. Người ta cũng nói rằng đầu hắn giống đầu rắn, đặt lên quả tim, khơi gợi và trò chuyện với con người. Khi họ tưởng nhớ Allah, hắn rút lui; khi họ không tưởng nhớ, hắn quay lại đặt đầu lên đó.
“Trong hàng jinn và loài người”: ý nói hắn xâm nhập vào người jinn cũng như xâm nhập vào người phàm; hắn thì thầm cám dỗ jinn cũng như thì thầm cám dỗ người phàm. Đây là lời của al-Kalbi. Câu “vào lòng người” ý nói “nhân loại” được nhắc đến sau đó, tức jinn và loài người. Như vậy, jinn được gọi là “nhân loại”, cũng như họ được gọi là “đàn ông”, theo lời Ngài: “Và quả thật, có những người đàn ông trong loài người thường cầu nương náu nơi những người đàn ông trong jinn” (al-Jinn, 6).
Người ta thuật lại rằng có một người Ả Rập, khi kể chuyện, nói: “Một nhóm jinn đến rồi ngồi xuống.” Người ta hỏi: “Các người là ai?” Họ đáp: “Chúng tôi là một nhóm người thuộc jinn.” Đây là ý nghĩa lời của al-Farra’. Có người nói: Câu này khẳng định rằng sự thì thầm cám dỗ con người có thể đến từ chính con người, cũng như sự thì thầm cám dỗ đến từ Shaytan.
Vì vậy, “waswas” được xem là hành động của cả jinn lẫn loài người, như lời Ngài: “Và như thế, đối với mỗi vị Nabi, TA đã chỉ định kẻ thù là những Shaytan thuộc loài người và jinn” (al-An‘am, 112). Nghĩa như thể Người được lệnh cầu Allah che chở khỏi điều ác của cả jinn lẫn loài người.
Isma‘il ibn Muhammad thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn ‘Isa thuật lại với chúng tôi; Ibrahim ibn Muhammad ibn Sufyan thuật lại với chúng tôi; Muslim ibn al-Hajjaj thuật lại với chúng tôi; Qutaybah ibn Sa‘id thuật lại với chúng tôi; Jarir thuật lại với chúng tôi, từ Bayan, từ Qays ibn Abi Hazim, từ ‘Uqbah ibn ‘Amir, ông nói: Sứ giả Allah ﷺ nói: “Ngươi chẳng thấy những câu mặc khải được ban xuống đêm nay sao? Chưa bao giờ thấy điều gì tương tự chúng: ‘Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của rạng đông’ và ‘Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của nhân loại.’”
Abu Sa‘id Muhammad ibn Ibrahim al-Shurayhi thuật lại với chúng tôi; Abu Ishaq Ahmad ibn Muhammad ibn Ibrahim al-Tha‘labi thuật lại với chúng tôi; Abu al-Hasan ‘Abd al-Rahman ibn Ibrahim al-‘Adl thuật lại với chúng tôi; Abu al-‘Abbas Muhammad ibn Ya‘qub thuật lại với chúng tôi; Abu al-‘Abbas ibn al-Walid ibn Mirthad thuật lại với chúng tôi; cha ông thuật lại với tôi; al-Awza‘i thuật lại với chúng tôi; Yahya ibn Abi Kathir thuật lại với tôi; Muhammad ibn Ibrahim ibn al-Harith al-Taymi thuật lại với tôi, từ ‘Uqbah ibn ‘Amir al-Juhani, rằng Sứ giả Allah ﷺ nói với ông: “Ta có nên cho ngươi biết điều tốt nhất trong những lời mà người cầu che chở thường đọc để cầu che chở không?”
Tôi đáp: “Xin vâng.” Người nói: “‘Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của rạng đông’ và ‘Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của nhân loại.’”
Abu Muhammad ‘Abd Allah ibn ‘Abd al-Samad al-Jawzajani thuật lại với chúng tôi; Abu al-Qasim ‘Ali ibn Ahmad al-Khuza‘i thuật lại với chúng tôi; Abu Sa‘id al-Haytham ibn Kulayb al-Shashi thuật lại với chúng tôi; Abu ‘Isa al-Tirmidhi thuật lại với chúng tôi; Qutaybah thuật lại với chúng tôi; al-Mufaddal ibn Fadalah thuật lại với chúng tôi, từ ‘Uqayl, từ al-Zuhri, từ ‘Urwah, từ ‘A’ishah, bà nói: Mỗi đêm, khi Sứ giả Allah ﷺ lên giường, Người chụm hai lòng bàn tay lại, thổi nhẹ vào đó rồi đọc: “Hãy nói: Ngài là Allah, Đấng Duy Nhất”, “Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của rạng đông” và “Ngươi hãy nói: Tôi cầu nương náu nơi Chúa Tể của nhân loại”.
Sau đó, Người dùng hai bàn tay ấy xoa khắp những phần thân thể có thể với tới, bắt đầu từ đầu, mặt và phần trước cơ thể. Người làm như vậy ba lần.
Abu al-Hasan al-Sarakhsi thuật lại với chúng tôi; Zahir ibn Ahmad thuật lại với chúng tôi; Abu Ishaq al-Hashimi thuật lại với chúng tôi; Abu Mus‘ab thuật lại với chúng tôi, từ Malik, từ Ibn Shihab, từ ‘Urwah ibn al-Zubayr, từ ‘A’ishah رضي الله عنها, rằng khi Nhà Tiên tri ﷺ đau ốm, Người đọc các surah cầu che chở lên mình và thổi nhẹ. Khi cơn đau trở nên dữ dội, tôi đọc chúng cho Người và dùng tay Người xoa lên thân thể Người, mong được phúc lành từ đôi tay ấy.
Imam Abu ‘Ali al-Husayn ibn Muhammad al-Qadi và Abu Hamid Ahmad ibn ‘Abd Allah al-Salihi thuật lại với chúng tôi; cả hai nói: Abu Bakr Ahmad ibn al-Husayn al-Hayri thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn Ahmad ibn Ma‘qil al-Maydani thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn Yahya thuật lại với chúng tôi; ‘Abd al-Razzaq thuật lại với chúng tôi; Ma‘mar thuật lại với chúng tôi, từ al-Zuhri, từ Salim, từ Ibn ‘Umar, ông nói: Sứ giả Allah ﷺ nói: “Không có sự ganh đua đáng mong muốn nào ngoại trừ trong hai trường hợp: một người được Allah ban cho Qur’an nên suốt đêm và suốt ngày đứng đọc, thực hành Qur’an; và một người được Allah ban cho tài sản nên suốt đêm và suốt ngày chi dùng nó.”
‘Abd al-Wahid al-Malihy thuật lại với chúng tôi; Ahmad ibn ‘Abd Allah al-Nu‘aymi thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn Yusuf thuật lại với chúng tôi; Muhammad ibn Isma‘il thuật lại với chúng tôi; Ibrahim ibn Hamzah thuật lại với chúng tôi; Ibn Abi Hazim thuật lại với tôi, từ Yazid — tức Ibn al-Had — từ Muhammad ibn Ibrahim, từ Abu Salamah ibn ‘Abd al-Rahman, từ Abu Hurayrah, ông nghe Nhà Tiên tri ﷺ nói: “Allah không lắng nghe điều gì với sự chăm chú như Ngài lắng nghe một vị Nabi có giọng đọc Qur’an hay, ngân nga và cất tiếng đọc lớn.”
Kết thúc. Ibn ‘Abd al-Qahir thuật lại với chúng tôi; ‘Abd al-Ghafir thuật lại với chúng tôi.
Trong «Sahih al-Bukhari» (số 5017), thuật lại từ ‘Aishah rằng mỗi đêm trước khi ngủ, Nabi Muhammad thổi nhẹ vào hai lòng bàn tay, đọc các surah “Al-Ikhlas”, “Al-Falaq” và “An-Nas”, rồi dùng hai bàn tay ấy xoa khắp cơ thể.